Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Mẹ già ở chốn lều tranh, Đói no chẳng biết rách lành chẳng hay. Mẹ già đầu
TQ13 - CHÍN CHỮ CÙ LAO. CHÍN CHỮ CÙ LAO . TRẦN QUÊ HƯƠNG . I. "Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã. Phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã. Cố ngã, phục ngã, xuất nhập phúc ngã. Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực". Cha sinh ra ta, mẹ nâng đỡ ta. Vuốt ve ta, cho ta bú, nuôi ta
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi" (Ca dao) Vậy chín chữ cù lao là gì? Trước hết, nói về tên "cù lao" thì đây là một từ gốc Hán, ghi bằng hai chữ 劬勞, nghĩa là cần mẫn, lao nhọc. Lưu ý rằng từ này vốn không liên quan gì đến từ "cù lao" chỉ những gò đất nổi giữa sông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! (2) Con người có cố có ông, Như cây có cội, như sông có nguồn (3) Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy *Câu hỏi trang 42: Hãy chú ý đến thể thơ, vần, nhịp
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!" Bài 2 "Con người có cố, có ông. Như cây có cội, như sông có nguồn. Bài 3 "Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy" 2. Chuẩn bị kiến thức về ca dao
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi . Cách sử dụng sáng tạo thành ngữ "chín chữ cù lao" để nhắc lại một lần nữa nỗi khó nhọc, vất vả của mẹ cha. Chín chữ ấy là: sính - đẻ, cúc - nâng đỡ, phủ - vuốt ve, súc - bú mớm, trưởng - nuôi lớn, dục - dạy dỗ, cố - trông nom
iqP3. Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Chín Chữ Cù Lao 1 Siêng năng cần mẫn nhọc nhằn Công ơn Cha Mẹ vĩnh hằng cao sâu Đẹp thay chín chữ Cù lao Sinh ra đau đớn xiết bao nhiêu tình Cúc thời nâng đở hy sinh Phủ năng chăm sóc vỗ về vuốt ve Súc thường bú mớm no nê Trưởngnuôi thể xác, dưỡng mê thân hình Dục thời dạy dỗ thâm tình Cố luôn trông ngắm xem nhìn thiết tha Phục quấn quít không rời tay Phúc lo đầy đủ ẳm bồng không xa Sợ người ăn hiếp rầy rà Giữ con sát cạnh gìn ngay bên mình Cuộc đời Cha Mẹ hy sinh Nuôi con khôn lớn hơn mình mới thôi Còng lưng đói khát đến rồi Vẫn luôn hoan hỷ tô bồi cho con Dù cho sức lực hao mòn Cắn răng chịu đựng trong lòng bao dung Làm con hiếu nghĩa chu toàn Phải lo đền đáp thắm hoàn ân sâu Cao thâm chín chữ cù lao Nhắc nhở trả hiếu Vu lan đến mùa Cùng nhau hội tụ về chùa Công phu công quả cúng dường Trai Tăng Để cho Tam Bảo vĩnh hằng Ích lợi nhân loại an bằng chúng sanh Viên Thành Mùa Vu Lan Báo Hiếu - Giáp Ngọ - 2014 1 9 Chữ Cù Lao Siêng năng, cần mẫn- nhọc nhằn 1/. Sinh Cha mẹ đẻ ra 2/. Cúc Nâng đở 3/. Phủ Vỗ về vuốt ve 4/. Súc Cho ăn bú mớm 5/. Trưởng Nuôi dưỡng thể xác 6/. Dục Giáo dưỡng tinh thần 7/. Cố Trông xem – nhìn ngắm 8/. Phục Quấn quít – săn sóc không rời tay 9/. Phúc ẳm bồng, gìn giữ, lo cho con đầy đủ, sợ con bị ăn hiếp
Soạn ngữ văn lớp 6 lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi + em hiểu như thế nào về câu thơ" Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi" "Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!" Bài ca dao trên là lời của ai nói với ai? Nói về điều gì? Xem chi tiết Chỉ ra và phân tích tác dụng các biện pháp tu từ trong các câu sau Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài Biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Xem chi tiết Công cha như núi ngất trờiNghĩa mẹ như nước ở ngoài biển ĐôngNúi cao biển rộng mênh môngCù lao chín chữ ghi lòng con ơi!hãy cho biết từ đơn , từ láy và từ ghép trong ca dao trên ai biết giúp em với ạ Xem chi tiết Cho bài thơ sauCông cha như núi ngất trờiNghĩa mẹ như nước ở ngoài Biển Đông Núi cao biển rộng mênh môngCù lao chín chữ ghi lòng con ơiC1Bài thơ trên thể thơ gì? Vì sao có thể xác định được? C2Đề tài?Nội dung? C3Bptt? Tác dụng Xem chi tiết "Núi cao biển rộng mênh môngCù lao chín chữ,ghi lòng con ơi!"tại sao bài ca dao lại nhắc lại hình ảnh"núi cao,biển rộng"?từ láy "mênh mông" có tác dụng gì? Xem chi tiết câu 1 viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ sau trong bài thơ mây và sóng của ta-go con lăn,lăn,lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta chốn nơi nào Xem chi tiết C1em hiểu nội dung dòng thơ " không có bố,không thì giờ " như thế nào?C2từ âm thầm xét về cấu tạo là từ gì? em hãy chỉ ra hiệu quả của việc sử dụng từ này trong câu thơ? Xem chi tiết em hiểu câu thơ "có lời mẹ hát. ngọt bùi đắng cay như thế nào"? Xem chi tiết Viết một đoạn văn khoảng 150 đến 200 chữ ghi lại cảm xúc của em về bài ca dao“Bình Định có núi Vọng PhuCó đầm Thị Nại, có cù lao về Bình Định cùng anh,Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.” Xem chi tiết
"Công cha như núi ngất trờiNghĩa mẹ như nước ở ngoài biển ĐôngNúi cao biển rộng mênh môngCù lao chín chữ ghi lòng con ơi!” Chiều ngày 28/6/2019 tức ngày 26/05 Kỷ Hợi, Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh đã có một thời Pháp thoại về hiếu đạo vô cùng ý nghĩa với hàng ngàn khóa sinh của Khóa tu mùa hè lần I. Bài giảng của Sư Phụ đã giúp các em cảm nhận và thấu hiểu hơn về công lao của mẹ - người đã cả một đời vất vả sớm khuya để dành cho con mình những điều tốt đẹp nhất. Đặc biệt hơn nữa, hình ảnh “Đức mẹ hiền chín chữ cù lao” trong bài giảng của Sư Phụ đã tái hiện lại được chặng đường dài mà mẹ phải trải qua để nuôi con khôn lớn, trưởng thành. Thuật ngữ “cù lao” bao gồm chín ơn lớn đã phần nào khắc họa lên sự chăm sóc, hy sinh, tình yêu thương của người mẹ dành cho người con. Chín chữ cù lao ấy là Sinh - Cúc - Phủ - Súc - Trưởng - Dục - Cố - Phục - Phúc. Các bạn khóa sinh thành kính tri ân Sư Phụ về bài giảng ơn đức của mẹ "chín chữ cù lao" 1. Chữ "Sinh" Đầu tiên là chữ “Sinh”. Không ai có mặt trên đời mà không từ mẹ sinh ra. Khi mang thai, người mẹ hạnh phúc lắm vì mẹ coi đứa con của mình như ngọc như vàng, coi con như là tất cả của mẹ. Nhưng bên cạnh đó mẹ cũng rất lo lắng, chịu bao cơ cực mong sao cho đứa con bé bỏng của mình được khỏe mạnh, thông minh. Đến khi sinh nở, mẹ phải trải qua những nỗi đau đớn về thể xác mà chỉ có mình mẹ hiểu được; thậm chí dù có phải đánh đổi mạng sống của mình để con được chào đời an toàn thì mẹ cũng vẫn sẵn sàng hy sinh. Nguy hiểm là thế, khó khăn là thế nhưng được nghe tiếng khóc đầu đời của con là mẹ luôn nở nụ cười hạnh phúc và mãn nguyện. 2. Chữ "Cúc" Rồi đến chữ “Cúc”. “Cúc” đó là ẵm bế, nâng niu. Người mẹ nâng đỡ con khi con vẫn còn là sinh linh bé nhỏ nằm trong bụng mẹ. Và khi con ra đời, mẹ luôn chăm nom, nâng đỡ, chỉ cần con khóc là mẹ lại bế con lên dỗ dành. Khi đứa con bước những bước chân đầu đời, con vấp ngã, mẹ cũng dịu dàng nâng con dậy, lo lắng sợ con đau. Quả thật, không ai yêu quý con bằng mẹ; mẹ thương con vô bờ bến, công ơn của mẹ lớn tựa biển trời. 3. Chữ “Phủ” Tiếp là chữ “Phủ”. “Phủ” có nghĩa là ôm ấp. Ngay từ khi sinh ra, bất kì người con nào cũng sẽ được đón nhận hơi ấm từ người mẹ, được nép mình trong vòng tay mẹ, được mẹ chở che. Nhất là trong đêm đông giá lạnh, ấp vào lòng mẹ, được mẹ hà hơi sưởi ấm có lẽ là điều hạnh phúc nhất thế gian. 4. Chữ “Súc” Sau là chữ “Súc”. Mẹ cho con bú mớm, lo từng miếng ăn cho con mỗi ngày. Ngay từ khi lọt lòng, người con đã được hưởng dòng sữa mẹ bao la. Có những gia đình nghèo không có bột nấu cho con ăn, người mẹ phải nhai cơm rồi mớm cho con. Khi đứa con biếng ăn, mẹ luôn chăm lo dỗ dành từng chút một mong sao cho con mình hay ăn chóng lớn để luôn khỏe mạnh. Đó chính là ý nghĩa của chữ “súc”. 5. Chữ "Cố" Chữ “Cố” thì sao? Chữ “Cố” là mẹ luôn chăm nom, mong ngóng, không lúc nào rời mắt khỏi các con. Những bước chân chập chững đầu đời của con, mẹ là người đầu tiên dõi theo. Bước chân tuy nhỏ bé nhưng lại là niềm hạnh phúc to lớn của mẹ. Cho đến khi con lớn lên, mẹ vẫn hằng trông mong con; cùng con đồng hành từ những chặng đường đầu tiên của cuộc đời đến khi con thành đạt. Chỉ đến lúc mẹ khuất núi thì ánh mắt dõi theo con mới dừng nghỉ mà thôi. 6. Chữ “Dục” Còn chữ “Dục” thế nào? Chữ “Dục” thể hiện sự dạy dỗ, kèm cặp con nên người của mẹ. Người mẹ chính là cô giáo đầu tiên trong cuộc đời của con. Từ câu nói đầu đời, câu chào hỏi dạ thưa cho đến những điều hay lẽ phải cũng đều là mẹ dạy cho con. Rồi con biết đọc, biết viết; con biết chăm sóc, yêu thương ông bà, cha mẹ và mọi người. Những điều đó mẹ đều theo sát, chỉ bảo tận tình cho con. Mẹ cũng là người gần gũi nhất, là người đóng góp công sức nhiều nhất cho sự trưởng thành của con. 7. Chữ “Trưởng” Chữ “Trưởng” là sao? Mẹ nuôi nấng con từ trong bụng đến khi trưởng thành. Đây quả là một hành trình đầy gian lao, vất vả. Từ khi còn bé thì mẹ lo con đau ốm, biếng ăn; ở độ tuổi con đi học thì mẹ tần tảo sớm khuya để nuôi ăn học, mong sao cho con trưởng thành. Thậm chí khi con trưởng thành rồi, mẹ vẫn chưa hết lo. Thật đúng với câu “Mẹ già trăm tuổi vẫn thương con tám mươi.” 8. Chữ “Phục” Với chữ “Phục” là thế nào? Với chữ “Phục”, ta hiểu rằng mẹ luôn thăm non, gần gũi và dành sự quan tâm đặc biệt cho đứa con của mình. Mỗi khi đi xa, người mẹ luôn nhớ con, lo cho các con nhiều lắm. Rồi khi con ốm, mẹ thức trắng đêm dài vì lo lắng, xót xa đứa con. Và chắc chắn một điều rằng mẹ là người gần gũi nhất, dù bất cứ chuyện gì xảy ra thì mẹ vẫn ở bên cạnh ủng hộ, yêu thương con hết lòng. 9. Chữ “Phúc” Cuối cùng là chữ “Phúc”. Chữ “Phúc” là mẹ bao bọc, che chở những người con. Mẹ luôn là chỗ dựa vững chắc nhất cho con; con đi bất cứ đâu cũng có vòng tay mẹ để trở về, dù con lớn khôn nhưng với mẹ vẫn là đứa con bé bỏng mẹ thường chăm lo. Mẹ cũng là người luôn sẵn sàng hy sinh mọi thứ để cho đứa con của mình có được một điều tốt đẹp nhất, vòng tay mẹ luôn mở rộng đón đứa con thơ trở luôn là thế đấy! Một người phụ nữ chân yếu tay mềm nhưng lại gánh vác được tất cả mọi thứ trên vai. Mẹ không quản ngại mưa nắng, phong ba để nuôi con thành người, luôn là nơi chốn để con quay về. Các bạn khóa sinh gửi những trái tim yêu thương đến cho cha mẹ sau khi được Sư Phụ giảng về ơn đức mẹ "chín chữ cù lao" Qua câu “Chín chữ cù lao” trong bài giảng “Mẹ yêu ơi!”, Sư Phụ đã giúp các bạn hiểu hơn về công ơn nuôi dưỡng của mẹ - người mình phải suốt đời mang ơn và báo hiếu. Những lời giảng thấm đượm tình hiếu đạo của Sư Phụ sẽ là bài học và hành trang quý báu cho tất cả các bạn khóa sinh. Thấu hiểu, yêu thương, chăm sóc và là một người con có hiếu để đền đáp công ơn như trời biển của mẹ là những gì các bạn đã hiểu được khi nghe Sư Phụ giảng. Hy vọng sau khi về nhà, các bạn khóa sinh sẽ trở thành những người con ngoan, hiếu thảo và luôn khắc ghi “chín chữ cù lao” để báo đáp công ơn của mẹ! Hạnh Liên
Công cha nghĩa mẹ được nói đến nhiều trong ca dao. Bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn” hầu như em bé nào cũng đã “uống” qua lời ru ngọt ngào của mẹ, của bà ngay từ thuở còn nằm trong nôi. Còn có bài ca dao bốn câu sau đây hầu như ai cũng nhớ cũng thuộc “Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Câu thứ nhất nói về “công cha”. Công cha đã từng được so sánh với núi Thái Sơn, ở đây công cha lại được ví với “núi ngất trời", núi hùng vĩ, núi cao chót vót ,cao đến mấy tầng mây xanh, núi chọc trời. Câu thứ hai nói về “nghĩa mẹ”’ nghĩa mẹ bao la, mênh mông, không thể nào kể xiết. Nghĩa mẹ được so sánh với nước ở ngoài biển Đông. Nghệ thuật so sánh và đối xứng đã tạo nên hai hình ảnh kì vĩ, vừa cụ thể hóa, hình tượng hóa, vừa ca ngợi nghĩa mẹ cha với tình yêu sâu nặng. Tiếng thơ dân gian khẽ nhắc mỗi chúng ta hãy ngước lên nhìn núi cao, trời cao, hãy nhìn xa ra ngoài biển Đông, lắng tai nghe sóng reo sóng hát, thủy triều vỗ mà suy ngẫm về công cha nghĩa mẹ Thấm thía và rung động biết bao “Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông” Hai câu cuối, giọng thơ cất lên thiết tha ngọt ngào. Tiếng cảm thán “con ơi !” là lời nhắn nhủ ân tình về đạo làm con phải biết "ghi lòng” tạc dạ công cha nghĩa mẹ “Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!” Câu trên là một ẩn dụ, nhắc lại, nhấn mạnh công cha nghĩa mẹ như “Núi cao biển rộng mênh mông”. Câu cuối bài ca dao, nhà thơ dân gian sử dụng cụm từ Hán Việt “cù lao chín chữ” để nói lên công ơn to lớn của cha mẹ như sinh thành nuôi dưỡng, cho bú mớm nâng niu, chăm sóc dạy bảo… con cái lớn khôn nên người, trải qua nhiều bề vất vả, khó nhọc. Có cha mẹ mới có con cái. Cha lo làm ăn, vất vả khó nhọc để nuôi con. Từ bát cơm, tấm áo đến ngọn đèn, quyển sách của con là do “công cha” và “nghĩa mẹ”. Mẹ mang nặng đẻ đau, như tục ngữ đã ghi lại “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ”. Con thơ lớn lên bằng dòng sữa tiếng ru, tiếng hát, bằng sự vỗ về, âu yếm chở che của mẹ hiền. Mẹ theo dõi, mẹ vui sướng từng ngày, từng ngày “Ba tháng con biết lẫy, bảy thảng con biết bò, chín tháng con lò dò biết đi”… Mẹ lo lắng, tóc mẹ bạc dần… khi con thơ ốm đau bệnh tật. Bát cháo, chén thuốc cho con chứa đựng biết bao tình thương của mẹ hiền. Và cái ngày con cắp sách đến trường vào học lớp Một, mẹ cha như trẻ lại, dào dạt sống trong niềm vui hạnh phúc và hi vọng. Đó là “cù lao chín chữ", đó là công ơn to lớn trời bể của mẹ cha, mà con cái phải biết “ghi lòng”. Có hiếu thảo thì con cái mới biết “ghi lòng” công cha nghĩa mẹ. Hai tiếng “con ơi " thật thấm thía, vần thơ như thấm sâu, lắng sâu vào tâm hồn ta. Cái hay của bài ca dao là cách nói so sánh cụ thể, nên thơ. Cái đẹp của bài ca dao là thể hiện sự ca ngợi, nói lên lòng biết ơn công cha nghĩa mẹ vô cùng to lớn. Ý nghĩa bài ca dao vô cùng sâu sắc nó dạy chúng ta bài học về lòng hiếu thảo của đạo làm con.
Người xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh sống vùng kênh rạch sông nước , cứ từ nơi này qua nơi kia phải đi bằng ghe xuồng , nhứt là bơi xuồng qua mấy cái Cù Lao nho nhỏ nổi lên giữa sông , thí dụ như Cù Lao Ông Chưởng nổi tiếng trong các bài ca dao bài vè “Bao phen quạ nói với diều Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”. Hay “Công cha như núi ngất trời. Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông. Cù Lao chín chữ ghi lòng con ơi!” Nói vậy chớ chữ Cù Lao nói về các hòn đảo nhỏ trên sông và chữ Cù Lao nói về công ân sanh thành của cha mẹ có liên quan gì nhau chăng? Cù lao Chàm là một điểm đến du lịch nổi tiếng ở Đà Nẵng Tôi xin được phân tách, hai chữ Cù Lao này đều ghi chữ Hán khác nhau hoàn toàn Thứ nhứt Cù Lao nghĩa trong “công ơn cha mẹ” tiếng Hán ghi là 苦勞, chánh xác phiên âm Hán Việt được ghi là “Khổ Lao” thay vì là Cù Lao như các bài ca dao trên. Khổ là Khổ cực , Lao tức Lao tâm tổn trí. Thứ hai chữ Cù Lao để nói về “đảo trên sông” được ghi là 劬勞, tiếng Hán Việt là “Cù Lao”. Hai chữ này ghép lại hoàn toàn vô nghĩa trong tiếng Hán. Đó chỉ là hình thức mượn chữ Hán để chỉ đọc lại tiếng “hòn đảo” từ tiếng gốc Mã Lai gọi là “pulau”, Các bạn sẽ thấy lạ là tại sao ở Nam kỳ lại có âm Mã Lai. Gốc Mã Lai chánh là gốc người nước Phù Nam cổ trên cùng đất này từ thế kỷ thứ 4 sau bị Chân Lạp thâu tóm thành Thuỷ Chân Lạp và sau này sát nhập với đất của các Chúa Nguyễn qua cuộc lương duyên với công nữ Ngọc Vạn. Trong câu “Bắc thang lên hỏi ông Trời” Thang = Tangga Mã Lai, và Trời cũng là tiếng Mã Lai cũng còn dùng hiện nay. “Thang” trong tiếng Việt bắt nguồn từ “Tangga” của tiếng Mã Lai Sau này khi người Việt và người Minh Hương tới đất Nam Kỳ, họ chỉ sử dụng tiếng Hán là chủ yếu nên đã Hán hóa một số từ ngữ bản địa thành ngôn của mình cho dễ đọc và ghi chép lại – trong đó có chữ Pulao của người Mã là Đảo. Phiên âm Hán Việt là 劬勞 cù lao vì vùng đất này là của Chân Lạp trước khi họ đến nên chắc là người Chân Lạp ko dùng Hán tự rồi. Việt Nam ta cũng có nhiều Pu Lao …như Cù lao Chàm, Cù lao Giêng, Cù lao Phố, Cù lao Rồng Dĩ nhiên là hai tiếng “cù lao” trên đây chẳng có liên quan gì đến hai tiếng cù lao dùng để nói về công lao cha mẹ. Một đằng là từ gốc Mã Lai còn một đằng lại là từ gốc Hán. “Cù lao” – Một đằng là từ gốc Mã Lai còn một đằng lại là từ gốc Hán Khi nói về “Công ân cha mẹ” chính xác phiên âm ra là chữ “Khổ Lao” hay “Cù Lao” phát âm từ tiếng Hán gần như nhau nên họ phát âm y xì. Rồi khi chữ Quốc Ngữ la tinh ra đời họ đọc phát âm sao thì ghi ta y chang vậy nên mới co các câu ca dao nói về âm dưỡng dục của cha mẹ bằng hai chữ “Cù Lao”. “Thương thay chín chữ cù lao Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình”. “Chín chữ cù lao” Cửu tự cù lao, tức là chín điều khó nhọc của cha mẹ sinh dưỡng con cái. Chín chữ đó là Sinh 生 sinh đẻ. Cúc 鞠 nâng đỡ. Dục 育 dạy dỗ. Phủ 撫 vuốt ve. Xúc 蓄 cho bú sữa. Trưởng 長 nuôi cho khôn lớn. Cố 顧 trông nom. Phục 復 ôm ấp. Phúc 腹 bảo vệ. Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Nói tiếp chơi còn một thứ cù lao nữa mà có lẽ bạn chưa nghe nói đến. Thứ “cù lao” này thuộc về lãnh vực ẩm thực trong tiếng Việt của miền Nam, mà “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức Khai Trí, Sài Gòn, 1970 giảng là “Cái lẩu, đồ đựng thức ăn có nước, giữa có ống đựng than lửa”. Bị chánh giữa cái nồi có cục nhô lên như mấy cái “cù lao” giữa sông nên dân gian gọi là cái Cù Lao. Trước năm 1955, khi tác giả của những dòng này chưa ra Bắc thì ở trong Nam, người ta vẫn còn gọi cái lẩu là “cù lao”. Lẩu là đồ đựng thức ăn có nước, giữa có ống đựng than lửa Đến năm 1975, khi trở về thì đã nghe bàn dân thiên hạ gọi cù lao thành lẩu. Thêm cái ngộ nghĩnh lắm nè Do tầm nhìn xưa còn hạn chế, nên dân Việt mình hồi lúc chưa được nhìn ra bao la thế giới mà chỉ lòng vòng trên sông nước. Người Việt chưa biết rằng xa thẳm ngoài đại dương cũng có những “cù lao” nổi trên mặt nước, thì họ tự cho rằng các “các cục đất nhô giữa sông hồ” đều là Pulao Cù lao còn Đảo tức cục đất nhô lên giữa lòng đại dương biển cả. Chữ Pulao trong tiếng Mã Lai và Đảo/島 trong tiếng Hán đều chỉ những hòn đảo dầu cho trên sông hay trên biển – tiếng Anh đều gọi là “Island” hết thảy. Do bởi đất Nam Kỳ từng là vùng đất dung dưỡng nhiều sắc tộc khác nhau cung chung sống nên ngôn ngữ văn hoá tôn giáo cung phong phú lắm. SỬ NƯỚC NAM Nguồn Facebook
lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi Câu Hỏi Tìm và giải thích 1 từ Hán Việt được sử dụng trong bài ca dao trênCông cha như núi ngất trời,Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!Giúp mình với ơi tìm và giải thích 1 từ hán việt dc sử dụng trong bài ca dao;công cha như núi ngất trờinghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đôngnúi cao biển rộng mênh mông cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Xem chi tiết I. Đọc bài ca dao sau và trả lời các câu hỏiCông cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!Câu 1. Bài ca dao thuộc đề tài nào?Câu 2. Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong bài ca 3. Viết một đoạn văn khoảng 5 đến 7 câu trình bày cảm nhận của em về bài ca dao trên. I. Đọc bài ca dao sau và trả lời các câu...Đọc tiếp Xem chi tiết phân tích bài thơ đầu tiên trong bài những câu hát về tình cảm gia đình“Công cha như núi ngất trời,Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển cao biển rộng mênh mông,Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi" Xem chi tiết " Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!"Em hãy cảm nhận bài ca dao sau Xem chi tiết chỉ ra biện pháp tu từ dc sử dụng trong bài ca dao và nêu tác dụng của phép tu từ đó trong việc diễn tả nội dung toàn bàicông cha như núi ngất trời nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông núi cao biển rộng mênh mông cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Xem chi tiết Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về bài ca dao dưới đây"Công cha như núi ngất trời,Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển ĐôngNúi cao biển rộng mênh mông,Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!" Xem chi tiết “Công cha như núi ngất trờiNghĩa mẹ như nước ở ngoài biển ĐôngNúi cao biển rộng mênh môngCù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”Xác định 1 từ ghép Hán Việt có trong bài ca dao và nêu sắc thái biểu cảm của từ đó Xem chi tiết công cha như núi ngất trời , nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông . tìm và giải thích 1 tu từ hán việt được sử dụng trong bài ca sao trên Xem chi tiết công cha như núi thái sơnnghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đôngnúi cao biển rộng mênh mông cù lao chín chữ ghi lòng con ơiachỉ ra hai từ ghép có trong đoạn trích trên ? cho biết hai từ em tìm được thuộc thể loại từ ghép nào? Xem chi tiết
cù lao chín chữ ghi lòng con ơi